PDA

View Full Version : Quy mô ngân hàng và nguy cơ sụp đổ hệ thống



vetinhnga03
12-14-2008, 08:02 PM
Giới ngân hàng Australia gọi 4 ngân hàng lớn nhất, CBA, NAB, WSP, ANZ, là Bốn Cột trụ (Four Pillars) hay Bốn Ông Lớn (Big Four). Gần 20 năm nay các đời thủ tướng của Úc dù là đảng nào cũng luôn giữ chính sách Four Pillar, nghĩa là không cho phép 4 ngân hàng này sáp nhập.
Lý do được đưa ra là các ngân hàng này sáp nhập sẽ làm giảm tính cạnh tranh trong hệ thống.
Ở Australia luật chống độc quyền do ACCC (Australian Competition and Consumer Commission - Ủy ban bảo vệ người tiêu dùng và cạnh tranh Australia), một ủy ban độc lập với chính phủ, quản lý. Do vậy mọi vụ sáp nhập của các công ty Australia, kể cả ngân hàng, đều phải được ACCC duyệt trên cơ sở của luật này. Tuy vậy chính sách Four Pillar lại được Quốc hội Australia giao cho Bộ Tài chính quản lý.

CBA: Commonwealth Bank of Australia -
là một trong những tập đoàn dịch vụ tài chính hàng đầu của Australia với tổng tài sản lên đến hơn 369 tỷ đôla Australia. CBA cũng là Ngân hàng bán lẻ lớn nhất tại Australia.

NAB: National Australia Bank - ngân hàng lớn thứ hai tại Australia tính theo giá trị vốn hóa, chỉ sau CBA.

WSP: Westpac Banking Corporation - thành lập 8/4/1817, với tổng giá trị tài sản toàn cầu là 402 tỉ USD
ANZ: Australia & Newzealand Bank - ngân hàng này là một trong những ngân hàng vào Việt Nam đầu tiên.
Thực tế dưới thời thủ tướng John Howard, đã có lần NAB và WSP có ý định hợp nhất và dường như đã được ACCC gật đầu vì họ chứng minh được vụ sáp nhập này sẽ không ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh.

Tuy nhiên Bộ trưởng Tài chính lúc đó là Peter Costelo đã thẳng thừng tuyên bố sẽ giữ nguyên Chính sách giữ nguyên 4 trụ cột kể cả trường hợp ACCC đồng ý cho 2 ngân hàng này sáp nhập.
Từ Too big to fail …
Vậy đằng sau Chính sách duy trì 4 trụ cột không hẳn là mối lo về cạnh tranh. Có lẽ cạnh tranh chỉ là cái cớ về mặt pháp lý để ngăn cản 4 ngân hàng này sáp nhập. Một lý do có lẽ rất quan trọng là Úc không muốn có một ngân hàng quá lớn đến mức to big to fail (quá lớn để có thể để cho sụp đổ)
Trước thế kỷ 20 các ngân hàng ở Mỹ do các bang cấp giấy phép và quản lý. Thậm chí hiện tại số lượng các ngân hàng liên bang (Federal chartered banks) của Mỹ cũng nhỏ hơn số ngân hàng của bang (state chartered banks) rất nhiều. Các ngân hàng của các bang chỉ được phép mở chi nhánh trong phạm vi bang của mình và rất nhiều bang thậm chí qui định số lượng chi nhánh tối đa một ngân hàng được phép mở.
Có lẽ đằng sau cơ cấu quản lý ngân hàng này cũng là sự lo lắng về sự đổ vỡ xảy ra với một hệ thống có quy mô quá lớn. Mối lo này rất có cơ sở khi nhìn vào cuộc khủng hoảng hiện nay: tuy đã có hơn 20 ngân hàng địa phương phá sản nhưng FDIC đã ngăn chặn được sự hoảng loạn và lây lan ra các ngân hàng khác. Trong khi đó các ngân hàng đầu tư (investment banks) và quỹ phòng hộ (hedge funds) ở Wall Street đã và đang sụp đổ dây chuyền vì liên hệ quá chặt chẽ với nhau.

… đến Too big to save
Tuy vậy tình hình ở Mỹ vẫn chưa đáng ngại bằng châu Âu. Nếu ở Mỹ nhà chức trách lo ngại vềtoo big to fail thì châu Âu đang lo ngại về too big to save (quy mô lớn vượt quá khả năng giải cứu).
Ví dụ điển hình là Iceland với hệ thống ngân hàng có tài sản lớn hơn nhiều lần GDP. Khi khủng hoảng xảy ra Iceland không đủ tiềm lực để cứu các ngân hàng của mình. Anh, Pháp, Đức đều có các ngân hàng lớn xấp xỉ bằng nền kinh tế của họ trong khi các nước châu Âu nhỏ hơn như Áo, Bỉ, Thụy Sĩ cũng giống như Iceland có những ngân hàng lớn hơn nhiều lần nền kinh tế nội địa.
Một số người cho rằng sự bùng nổ của các ngân hàng châu Âu có nguồn gốc từ quá trình liên kết kinh tế (economic integration) do EU và EMU khởi xướng. Các nhà hoạch định chính sách châu Âu đã quên mất nguyên tắc too big to fail để đến bây giờ mới nhận ra các ngân hàng như UBS và Barclays đã too big to save. Đã có nhiều lời kêu gọi các quốc gia châu Âu phải tạm gác lại các khía cạnh chính trị để tìm ra giải pháp chung cho vấn đề này.
Không phải ngẫu nhiên WEF đã đánh giá Úc có một hệ thống ngân hàng an toàn nhất thế giới. Và có lẽ cũng không quá sớm để Việt Nam nghĩ về một chính sách tương tự như Four Pillar Policy của Úc.


Lê Hồng Giang​